“Lên xem phong cảnh chùa Hà;
Có cây trăm thước có hoa bốn mùa”
Câu ca dao trên nói về chùa Hà Tiên, một di tích nổi tiếng tọa lạc tại phường Vĩnh Phúc, tỉnh Phú Thọ. Chùa nằm ngay trên quốc lộ 2B từ phường Vĩnh Phúc lên khu du lịch Tam Đảo. Một vị trí được coi là thế đất quý về mặt phong thủy “long hàm ngọc” (rồng ngậm ngọc), phong cảnh hữu tình, chùa là nơi thờ phật, truyền bá giáo lý cho nhiều thế hệ tăng ni, cư sĩ tu tập. Chùa còn là nơi thờ Quốc Mẫu Tây Thiên Lăng Thị Tiêu và ghi dấu chân Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người về thăm Vĩnh Phúc ngày 25/01/1961. Năm 2010, chùa Hà Tiên là di tích được gắn biển Công trình kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Chùa được xây dựng vào năm Quý Mùi (1703), niên hiệu Chính Hòa thứ 24, đời vua Lê Hy Tông Duy Hiệp. Khu di tích lịch sử chùa Hà Tiên từng là một trong những trung tâm Phật giáo lớn của thời Lý Trần với công viên cây xanh rộng 6,2ha. Chùa được xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh, năm 1995.

Chùa Hà Tiên còn có tên gọi khác là “chùa cầu mưa”, trước đây, vùng này thường xuyên xảy ra hạn hán khiến đất đai cằn cỗi, cây cối khô héo. Những người sống dựa vào nông nghiệp lâm vào cảnh đói khát và phải bỏ làng đi kiếm ăn. Chứng kiến tận mắt những khổ nạn này, sư trụ trì chùa lúc bấy giờ là sư Tịnh Huân đã lập đàn tế tự để cầu mưa. Hơn thế, vị sư đã nguyện tự thiêu để cầu mưa cho dân vào ngày 30-5 âm lịch. Sau khi phát nguyện trước tam bảo và đất trời, ngài đã tọa trong tư thế kiết già rồi tự thiêu để cúng già chi thiên, cầu đảo cho dân. Đến ngày 1-6, sau một ngày tự thiêu, thì trời mưa lớn và kéo dài liên tiếp 3 ngày từ đó, hàng năm cứ đến ngày giỗ của sư tổ, trời thường đổ mưa. Vô cùng ghi nhớ công ơn của bậc chân tu, người dân đã dựng ngôi tháp bảo ba tầng để lưu trữ tro cốt của ngài.
Chùa Hà Tiên không chỉ nổi bật với hệ thống tượng Phật, hoành phi câu đối và mộ tháp, mà còn lưu giữ những hiện vật quý giá có giá trị lịch sử và văn hóa. Trong số đó, có hai bia đá nổi bật. Thứ nhất là cây hương mang tên “Hà Tiên Thiên đài bi”, được lập vào năm Chính Hòa thứ 24 (tức năm 1703). Tấm bia này ghi lại việc trùng tu chùa Hà, minh chứng cho sự quan tâm và đóng góp của các thế hệ đối với công trình tôn giáo này. Thứ hai là tấm bia dẹt được tạo vào năm Quang Trung thứ 4 (1791). Bia này ghi lại sự kiện nhà sư trụ trì Tổ Tịnh Huân nguyện lập đàn tự hóa để cầu mưa cho thiên hạ, giúp dân chúng trong vùng tránh khỏi nạn hạn hán, mất mùa và đói kém. Hành động cao cả của Tổ Tịnh Huân không chỉ mang lại sự cứu rỗi tạm thời mà còn để lại một di sản tinh thần vững bền cho cộng đồng. Để tưởng nhớ công đức của Tổ Tịnh Huân, hàng năm vào ngày 1/6 âm lịch, chùa Hà Tiên tổ chức lễ giỗ Tổ trang trọng, bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đối với sự hi sinh vì dân của ngài.

Ngoài các bia đá, chùa còn lưu giữ hai tượng voi đá nhỏ. Những hiện vật này không chỉ là chứng tích của một thời kỳ lịch sử mà còn là biểu tượng của sự bền vững và tâm linh sâu sắc, góp phần làm phong phú thêm di sản văn hóa và tôn giáo của chùa Hà Tiên. Các hiện vật này đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu lịch sử và văn hóa Phật giáo tại Việt Nam, đồng thời góp phần giáo dục thế hệ trẻ về truyền thống và lòng biết ơn đối với những người đi trước đã đóng góp công sức và tâm huyết vào sự phát triển của cộng đồng.
Chùa còn được biết đến là ngôi chùa cầu may “đi thì lẻ loi, về thì có đôi”. Đầu xuân, chùa thường thu hút khách thập phương đến cầu bình an, sức khỏe và đặc biệt là cầu tình duyên. Ai còn neo đơn thì đến chùa Hà Tiên cầu với Quốc Mẫu cho được kết duyên lành. Nhiều cặp đôi đã nên duyên vợ chồng sau khi lên chùa cầu duyên. Ngoài ra, chùa còn nổi tiếng với giếng Ngọc (giếng Hạ). Nước giếng chùa Hà Tiên nổi tiếng linh thiêng và kỳ diệu, uống một ngụm nước giếng trong lành, mát lạnh khiến cơ thể khỏe khoắn hơn, tinh thần phấn chấn hơn. Giếng Ngọc ở chùa Hà Tiên có tiếng “trong xanh, mạch nước huyền ảo” nên người xưa vẫn lưu truyền câu ví von: “Dù ai xấu như ma/Uống nước chùa Hà đẹp như tiên”. Hàng năm, vào những ngày lễ lớn, khách thập phương đến chùa lễ Phật đều xin nước ở giếng Ngọc, mang về thắp hương và uống dần, nhất là những ngày đầu xuân. Người ta tin rằng có nước giếng cổ để sử dụng dịp Tết sẽ mang đến nhiều điều may mắn. Những ngày đầu Tết Nguyên Đán, chùa đón một lượng lớn khách du lịch từ khắp nơi trong và ngoài tỉnh đến hành hương, lễ chùa và cầu những điều tốt lành cho cả năm.

Chùa là nơi thờ Phật, nơi truyền bá kiến thức Phật pháp cho các thế hệ tăng ni, cư sĩ qua hàng trăm năm. Tương truyền, do chùa tọa lạc ở thế “sơn chỉ, thủy giao” nên hai bên đều phải sở hữu gò đất lớn án ngữ tựa hình thanh long, bạch hổ. Khi đất nước có giặc ngoại xâm, bà Lăng Thị Tiêu trên đường đi hợp quân với Hùng Vương thứ 7 đi đánh giặc thấy đất lạ nên đã dừng chân tại đây chiêu binh mãi mã. Về sau, bà được phong là Quốc Mẫu Tây Thiên, để tưởng nhớ bà, người dân lập bàn thờ Quốc Mẫu tại đây, gọi là Thánh Đại Vương. Chùa Hà Tiên là một địa chỉ đặc biệt khi vừa là nơi thờ Phật, vừa là địa chỉ thờ Quốc Mẫu.
Cảm nhận chung của hầu hết các du khách có dịp đến thăm nơi này, khi bước vào chùa là đều thấy choáng ngợp trước công trình kiến trúc mang đậm văn hóa Việt. Từ mái chùa được uốn cong 4 góc, trên nóc chùa có biểu tượng “Lưỡng long triều nguyệt”. Trên các cánh cửa, cột gỗ đều có các câu đối, nét chạm trổ công phu với những họa tiết cách điệu vô cùng tinh xảo, sắc nét. Chính sự trầm lắng của không gian chùa mang lại mà chuyến du lịch của du khách đến vùng đất này, sẽ thêm chút sắc màu thi vị, bởi như được ngược dòng thời gian, trở về với không gian nguồn cội của dân tộc.